Tập đoàn VNPT sẽ chuyển dịch mạnh mẽ sang nhà cung cấp dịch vụ số

16:13, Thứ Năm, 28/12/2017 (GMT+7)
(XHTT) - Những kết quả mà Tập đoàn VNPT đạt được trong năm 2017 sẽ là tiền đề cho những bước phát triển đột phá hơn, thành công hơn của Tập đoàn trong giai đoạn tiếp theo - giai đoạn đột phá của công nghệ số, công nghệ thông minh trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. 
 
Năm 2017: VNPT đóng vai trò dẫn dắt trong triển khai Chính phủ điện tử 
 
Tính đến cuối năm 2017, lợi nhuận hợp nhất toàn Tập đoàn đạt 5.010 tỷ đồng, tăng 21% so với năm 2016 và là năm thứ 4 liên tiếp VNPT đạt mức tăng trưởng lợi nhuận trên 20%. Tổng doanh thu đạt 144.747 tỷ đồng, tăng 7% so với năm 2016.  Nộp ngân sách Nhà nước đạt 4.116 tỷ đồng, tăng 9,3% so với năm 2016. Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn chủ sở hữu năm 2017 của VNPT đạt 8,2% , vượt 5,1% so với kế hoạch.
 
Ông Trần Mạnh Hùng – Chủ tịch Hội đồng Thành viên Tập đoàn VNPT phát biểu tại Hội nghị triển khai kế hoạch năm 2018 của VNPT
Ông Trần Mạnh Hùng – Chủ tịch Hội đồng Thành viên Tập đoàn VNPT phát biểu tại Hội nghị triển khai kế hoạch năm 2018 của VNPT
 
VNPT đã hoàn thành tốt các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh năm 2017 do Bộ TT&TT giao. Đồng thời, triển khai thực hiện nghiêm túc các chủ trương, chỉ đạo của Chính phủ, Bộ TT&TT và các cơ quản quản lý nhà nước. Đến nay, công tác phát triển thuê bao đã đi vào thực chất, hạ tầng mạng lưới không ngừng được mở rộng với hơn 20.000 trạm di động (2G, 3G, 4G) hoàn thành phát sóng, nâng tổng số trạm lên xấp xỉ 75.000 trạm trên toàn quốc; tổng băng thông Internet quốc tế tăng hơn 83% so với năm 2016; tổng năng lực caching của VNPT tăng hơn 2,1 lần.
 
VNPT cũng đã đưa vào khai thác tuyến cáp biển băng thông rộng AAE1 từ tháng 10/2017. Trong năm qua, VNPT đã triển khai phục vụ thông tin liên lạc, đảm bảo chất lượng an ninh, an toàn thông tin cho các sự kiện lớn, đặc biệt là Tuẫn lễ cấp cao APEC 2017 được Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Bộ TT&TT ghi nhận và khen thưởng.
 
Đặc biệt, các sản phẩm CNTT của VNPT được thị trường đón nhận và đóng vai trò dẫn dắt trong quá trình triển khai Chính phủ điện tử tại 61/63 tỉnh, thành phố trên toàn quốc, phần mềm quản lý văn bản và điều hành (VNPT-iOffice) được sử dụng tăng gấp 4 lần, phần mềm một cửa điện tử (VNPT-iGate) tăng gấp 3 lần, Cổng thông tin điện tử (VnPortal) tăng 1,2 lần, phần mềm giáo dục tăng gấp 2 lần so với cùng kỳ năm 2016. VNPT cũng đưa vào cung cấp nhiều giải pháp, dịch vụ CNTT mới như Giải pháp quản trị doanh nghiệp (VNPT ERP), Giải pháp quản lý kênh phân phối, điểm bán hàng (VNPT DMS-POS)... 
 
Không dừng lại ở đó, VNPT còn đẩy mạnh sản xuất các sản phẩm công nghệ cao được nghiên cứu, phát triển và sản xuất hoàn toàn do chính nội lực của mình. Và kết quả là trong năm 2017, VNPT đã sản xuất trên 2,1 triệu sản phẩm, trong đó có 1,5 triệu ONT và nhiều sản phẩm mới trong các lĩnh vực IoT, LTE, cảm biến,… 
 
Năm 2018: Chuyển dịch mạnh mẽ sang nhà cung cấp dịch vụ số
 
Mặc dù vẫn còn một số tồn tại của năm 2017, nhưng với những kết quả SXKD ấn tượng đã đạt được, bước sang năm 2018 VNPT sẽ tập trung phát triển các dịch vụ CNTT mang tính đột phá trong kinh doanh chuyển từ khái niệm nhà mạng viễn thông (Telco) sang nhà cung cấp dịch vụ truyền thông kỷ nguyên số (DSP) nhằm chuyển đổi sang kinh doanh các dịch vụ số, các dịch vụ GTGT, CNTT, truyền thông và công nghiệp CNTT. Để đạt mục tiêu đó, VNPT sẽ triển khai:
 
Về quản trị doanh nghiệp, VNPT tổ chức triển khai Chiến lược VNPT 3.0 đáp ứng các mục tiêu phát triển của mình. Đồng thời, triển khai có hiệu quả công tác quản trị rủi ro tại Tập đoàn và các đơn vị; tiếp tục hoàn thiện hệ thống cơ chế kinh tế áp dụng cho các đơn vị hạch toán phụ thuộc theo chức năng vận hành, bảo trì, duy trì mạng lưới đáp ứng cho nhu cầu kinh doanh; thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng giám sát, quản trị BSC; Đẩy mạnh triển khai ứng dụng CNTT trong công tác quản lý, điều hành SXKD tại Tập đoàn.
 
Về mạng lưới, dịch vụ, VNPT tập trung hoàn thiện cơ chế, quy chế, quy trình phối hợp giữa các đơn vị. Bên cạnh đó,  điều chỉnh cấu trúc/quy hoạch mạng 2G/3G/4G phù hợp với nhu cầu khách hàng, đảm bảo thực hiện thành công phương án chuyển mạng giữ số (MNP) theo chỉ đạo của Bộ TT&TT, hoàn thành triển khai cung cấp dịch vụ trên nền IPv6 đối với mạng băng rộng cố định và mạng di động để đáp ứng nhu cầu kết nối IoT của khách hàng. Trong năm 2018, VNPT cũng sẽ hoàn thiện các giải pháp CNTT đã và đang triển khai cho khách hàng. Xây dựng và làm chủ các sản phẩm cốt lõi trong phân khúc Chính phủ và tổ chức/doanh nghiệp. Tiếp tục phát triển và thúc đẩy các danh mục dịch vụ mới về CNTT, truyền thông và dịch vụ số tiềm năng: Điện toán đám mây, Dữ liệu lớn (BigData), Smart-Cities, M2M/IoT, Trí tuệ nhân tạo (AI), dịch vụ số. 
 
Về công tác kinh doanh, triển khai các giải pháp để nâng cao chất lượng, năng lực đội ngũ bán hàng, đặc biệt là bán hàng các dịch vụ/gói dịch vụ mới, các dịch vụ CNTT, dịch vụ GTGT. Nâng cao trải nghiệm của khách hàng bằng phân loại các phân khúc và cung cấp các sản phẩm theo hướng cá thể hoá. Tăng cường số hóa trong các hoạt động bán hàng (kênh Online), chăm sóc khách hàng, thanh toán trực tuyến qua cổng VNPT Pay. Xây dựng kịch bản, chính sách kinh doanh theo từng nhóm thị trường đối với dịch vụ di động, băng rộng để triển khai bám sát theo chiến lược VNPT 3.0. Tập trung phát triển, cung cấp giải pháp Smart City cho các tỉnh, thành phố lớn nhằm phân bổ hiệu quả nguồn lực và đảm bảo tỷ lệ thành công cao. 
 
Về công tác đầu tư, nghiên cứu phát triển, tiếp tục đổi mới công tác quản lý đầu tư trong triển khai hệ thống mạng di động và Data center. Tăng cường kiểm soát tiến độ và nội dung các dự án đầu tư trọng điểm: phát triển trạm 4G, băng rộng cố định, chương trình chiếm lĩnh độ cao, các dự án CNTT...Tăng cường công tác giám sát, đánh giá gắn kết giữa nhu cầu phát triển thuê bao và khả năng đáp ứng thiết bị của nhà cung cấp Nghiên cứu, lựa chọn thêm nguồn cung cấp thiết bị nhằm giảm thiểu rủi ro trong hoạt động cung cấp sản phẩm thiết bị phục vụ cho hoạt động SKXD. Đổi mới cơ chế quản lý hoạt động nghiên cứu phát triển theo hướng phân cấp mạnh để tạo sự chủ động cho các đơn vị và giám sát chặt chẽ, hiệu quả các hoạt động nghiên cứu phát triển. Đưa tối thiểu 06 R&D Lab vào hoạt động để nghiên cứu và triển khai các công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, giải pháp mới có thương hiệu VNPT.
 
 
P.V
.
.
.

.
.
.