4G LTE đã có 5.614 mẫu thiết bị hỗ trợ người dùng

19:11, Thứ Tư, 13/07/2016 (GMT+7)

Hiệp hội các nhà cung cấp dịch vụ di động toàn cầu GSA vừa công bố số mẫu thiết bị hỗ trợ người dùng mạng 4G LTE mà ngành công nghiệp di động toàn cầu phát triển và tung ra thị trường đã đạt con số 5.614.

Cụ thể, theo Báo cáo Thực trạng thị trường thiết bị LTE xuất bản ngày 24/6/2016, thế giới đã có 455 nhà sản xuất và nhà cung cấp tung ra thị trường tổng cộng 5.614 mẫu thiết bị hỗ trợ người dùng LTE, tăng 1.198 mẫu so với hồi tháng 2 vừa qua, tăng gần 3.000 mẫu so với tháng 2/2015, đạt tốc độ tăng trưởng hàng năm 72%. Nếu so với cùng kỳ năm trước thì số nhà sản xuất tham gia thị trường thiết bị LTE đã tăng 49%.

Biểu đồ tăng trưởng thị trường thiết bị hỗ trợ 4G LTE giai đoạn tháng 2/2011 - 6/2016
Biểu đồ tăng trưởng thị trường thiết bị hỗ trợ 4G LTE giai đoạn tháng 2/2011 - 6/2016

Smartphone LTE vẫn là dòng thiết bị được các nhà sản xuất quan tâm đầu tư và phát triển nhiều nhất trong thời gian qua. Theo đó, dòng thiết bị này đã có tới 3.580 mẫu, chiếm thị phần gần 64%. Trong đó, 98,5% mẫu smartphone LTE là đa chế độ (Multimode), nghĩa là, ngoài mạng 4G LTE, chúng có thể hỗ trợ người dùng thực hiện các kết nối ngược trở lại mạng 3G và 2G. Ngoài ra, cũng có khoảng 56,5% điện thoại LTE có thể hoạt động trên các mạng 42 Mbps DC-HSPA+.

Tiếp theo là thiết bị định tuyến và hotspot (936 mẫu), Tablets (500 mẫu), Module (276 mẫu), Dongle (212 mẫu), Notebook (63 mẫu), Femtocell (27 mẫu), Camera (6 mẫu) và PC Card (1 mẫu).

Thị phần các loại thiết bị đầu cuối LTE
Thị phần các loại thiết bị đầu cuối LTE

Thống kê của GSA còn cho biết, 91,2% thiết bị 4G LTE có khả năng tương thích ngược trở lại với các công nghệ 3G như HSPA, HSPA+, DC-HSPA+, EV-DO và TD-SCDMA. Ngoài ra, 98,2% điện thoại LTE và 95,2% máy tính bảng LTE có thể hoạt động đa cơ chế (Multimode) và cùng hỗ trợ người dùng thực hiện các kết nối ngược trở lại mạng 3G DC-HSPA+.

Nếu tính theo cơ chế hoạt động thì phần lớn thiết bị LTE hoạt động theo cơ chế song công phân chia theo tần số (LTE-FDD) trong khi cơ chế song công phân chia theo thời gian TDD cũng đang tăng nhanh về số lượng thiết bị hỗ trợ với 2.141 mẫu, chiếm 40% tổng số mẫu thiết bị LTE. Bên cạnh đó, thiết bị hỗ trợ công nghệ thoại chất lượng cao trên mạng LTE (VoLTE) cũng sở hữu khoảng 430 mẫu, trong đó đa phần là smartphone (401 mẫu). Dòng thiết bị này được dự báo sẽ gia tăng nhanh chóng trong thời gian tới khi các nhà mạng tiếp tục quan tâm đến việc nâng cao trải nghiệm thoại của người dùng.

Nếu tính theo băng tần, 1.800 MHz (3GPP Band 3) là băng tần được sử dụng nhiều nhất cho triển khai LTE và cũng là băng tần sở hữu hệ sinh thái thiết bị lớn nhất (LTE1800), với khoảng 3.227 mẫu, chiếm 57,4% các mẫu thiết bị LTE. Đứng thứ 2 là băng tần 2,6 GHz (band 7) với 2.993 mẫu, và tiếp đó là băng 2.1GHz (band 1) có 2.613 mẫu.

Về các thiết bị LTE tốc độ cao, Báo cáo cho biết, trên toàn cầu có 314 mẫu thiết bị hỗ trợ tốc độ Category 6 bao gồm small cell, router, MiFis, smartphone và máy tính bảng; 43 mẫu Category 9 (tốc độ tải về 450 Mbps); mẫu Category 11 và 8 mẫu thiết bị Category 12 (tốc độ tải lên là 600 Mbps/100 Mbps).

Ngoài ra, trong Báo cáo lần này, trên toàn cầu cũng đã có tới 25% các nhà mạng khai trương thương mại mạng LTE-Advanced trong đó có 7 mạng LTE-Advanced Pro. Dự kiến các mạng LTE dung lượng hàng Gigabit sẽ có khả năng ra mắt vào 6 tháng cuối năm nay.

Cũng theo một báo cáo trước đây của GSA, VoLTE đã được tổng cộng 118 nhà mạng đầu tư triển khai, nghiên cứu, thử nghiệm tại 57 quốc gia. Trong đó bao gồm 46 mạng VoLTE thương mại tại 29 quốc gia, 48 mạng đang triển khai và cam kết sớm thương mại hóa, 25 mạng thử nghiệm và 8 mạng quy hoạch. Theo dự báo, số mạng VoLTE thương mại sẽ chạm mốc 100 mạng vào cuối năm nay, tăng tiếp vào những năm tiếp theo để có thể mang lại khoản doanh thu trị giá 120 tỷ USD vào năm 2020.

Trong khi đó, theo hãng nghiên cứu thị trường công nghệ viễn thông IHS, số người sử dụng công nghệ thoại qua mạng LTE (VoLTE) có thể tăng từ 185 triệu vào năm 2015 lên 310 triệu trong năm nay và chạm mốc 1 tỷ vào năm 2020.

Lê Hường (theo GSA)
 

.
.
.
.
.

.
.
.