Ngủ quên trên chiến thắng, công nghiệp điện tử Nhật Bản trả giá đắt

14:07, Thứ Năm, 16/03/2017 (GMT+7)

(XHTT) - Từng thống trị cả nền kinh tế thế giới, nền kinh tế Nhật Bản nói chung và ngành công nghiệp điện tử nói riêng đánh mất vị thế của mình về tay những quốc gia đối thủ như Mỹ, Hàn Quốc và cả Trung Quốc. Nguyên nhân nào khiến Nhật Bản rơi vào vòng xoáy hoán đổi ngoạn mục này? Gần 02 thập kỷ trôi qua tưởng chừng trong chớp mắt, Nhật Bản giờ chỉ còn biết ngậm ngùi tiếc thương quá khứ huy hoàng.

Từ thời kỳ huy hoàng...

Nền kinh tế Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ 2 có sự phát triển thần kỳ nhờ định hướng và điều chỉnh đúng đắn của Chính phủ nước này, đặc biệt là giai đoạn từ 1955-1973. Trong khoảng thời gian đó, nền kinh tế Nhật liên tục đạt kết quả tăng trưởng 2 con số và GNP của Nhật Bản vươn lên sánh ngang rồi không lâu sau đó vượt lên trên các nền kinh tế lớn của châu Âu như Đức, Anh, Pháp... chỉ đứng sau Mỹ.

Trong giai đoạn này, hàng loạt các công ty lớn của Nhật nổi lên như là các ông lớn ở các ngành như sản xuất ô tô, điện tử tiêu dùng, máy tính. Đó là Toyota, Honda, Nissan, JVC, Sony, Panasonics, Sharp, Toshiba, Mitsubishi, NEC… Điều gì đã giúp cho các cty của Nhật chiếm lĩnh thị trường thế giới nhanh như vậy?

Đầu tiên phải kể đên chính là chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp cộng với điều kiện hạ tầng xã hội ở giai đoạn đó đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp của Nhật Bản có được nguồn nhân lực có tay nghề cao với chi phí lao động thấp. Người Nhật rất giỏi về kỹ thuật, họ nắm bắt, học hỏi các công nghệ của người châu Âu và Mỹ rất nhanh. Không những thế, họ còn sáng tạo và cho ra những sản phẩm ưu việt hơn, tốt hơn. Họ không đơn thuần chỉ bắt chước các công nghệ đi trước như cách mà Trung Quốc đã làm. Bên cạnh đó, chính sách tiền tệ ổn định làm cho đồng Yên luôn ở mức thấp so với USD giúp cho các công ty Nhật có cơ hội xuất khẩu hàng hóa ra thế giới được nhiều hơn.

Tiếp đến, Nhật ở giai đoạn đó là nước có dân số trẻ. Họ làm việc với khả năng cống hiến và sức sáng tạo rất lớn. Đi kèm với đó là tính kỷ luật, tinh thần dân tộc cao cộng với ý chí phẩn đấu mạnh mẽ của cả xã hội Nhật Bản nhằm khôi phục đất nước từ đống tro tàn sau Chiến tranh thế giới. Đây chính là giai đoạn mà người Nhật tạo ra nhiều sản phẩm mang tính đột phá, cách mạng nhất cho xã hội. Sản phẩm của họ đảm bảo các yếu tố: tốt, bền, đẹp.

Một yếu tố thuận lợi nữa không thể không nhắc tới đã góp phần đưa nước Nhật tiến về phía trước, đó là cả thế giới vừa bước ra khỏi Chiến tranh thế giới thứ 2 nên nhu cầu tiêu dùng rất cao, nhất là những sản phẩm có độ bền cao, hình thức đẹp vừa phải và có thể giá hơi cao 1 chút. Điều này lý giải tại sao thời kỳ đó, xe máy Honda, ô tô Toyota, tivi Sony nhanh chóng chiếm được lòng tin của người tiêu dùng toàn cầu và có thị phần rất lớn, gần như không có đối thủ.

...đến những năm dài... trượt dốc

Tuy nhiên, không có gì là mãi mãi, sau 1 loạt các cuộc khủng hoảng kinh tế từ năm 1974 đến 1990, nền kinh tế Nhật bản bắt đầu chững lại, liên tục có tốc độ tăng trưởng thấp, thậm chí có lúc giảm phát. Đến nay, dù đã thực hiện nhiều chính sách cải tổ nền kinh tế thì chính phủ Nhật vẫn chưa thể đưa nước Nhật quay trở lại thời kỳ phát triển thần tốc thậm chí bị Trung Quốc vượt mặt và rơi xuống vị trí nền kinh tế lớn thứ 3 thế giới.

Chúng ta chứng kiến hàng loạt công ty Nhật Bản lâm vào khủng hoảng, phá sản, sát nhập, hoặc bị mua bởi các công ty của quốc gia khác- đặc biệt là Trung Quốc. Vậy đâu là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này của các công ty Nhật Bản?

Câu trả lời đến từ chính sách tiền tệ kém linh hoạt của Chính phủ Nhật Bản làm cho đồng Yên liên tục tăng giá, giá thành sản phẩm của Nhật xuất đi các nước cao hơn dẫn đến kim ngạch xuất khẩu giảm. Hàng hóa của Nhật trở nên khó bán ra các nước hơn trong khi thị trường nội địa lại đi xuống.

Bên cạnh đó, chi phí lao động tăng chóng mặt do lương công nhân tăng cao ở Nhật Bản cộng với diện tích nhà xưởng hạn chế, nguồn nguyên liệu cũng thiếu thốn làm cho các công ty Nhật phải đưa dây chuyền công nghệ sang các nước thứ 3 như Hàn Quốc, Malaysia, Trung Quốc, Thái Lan….Tuy nhiên, cách đưa dây chuyền, công nghệ sang các nước thứ 3 của Nhật không giống các công ty châu Âu. Nhật không ngần ngại đưa những công nghệ tiên tiến của mình sang các nước đó với sự tự tin rằng họ sẽ không sao chép được ông nghệ của mình. Và đó là 1 phần sai lầm của các công ty Nhật Bản, một trong những nước có được sự thành công lớn từ việc đi làm thuê cho Nhật Bản chính là Hàn Quốc mà điển hình là Samsung.

Từ việc gia công đèn hình cho các công ty của Nhật (Sony, Toshiba…), Samsung có được sản phẩm tivi của riêng mình rồi sau đó họ vượt lên nắm giữ công nghệ sản xuất tivi tiên tiến nhất thế giới và bây giờ họ đã bỏ xa Sony. Thị phần tivi của Sony trên toàn cầu nhiều năm qua đứng sau Samsung. Sony cũng bán luôn mảng sản xuất laptop tưởng là thế mạnh của mình cho đối tác khác. Còn JVC và Toshiba thì phá sản, Sharp thì phải bán cho Foxcon của Trung Quốc, Panasonic thì không còn mặn mà với việc sản xuất tivi nữa.

Cùng với đó là thị hiếu tiêu dùng của người tiêu dùng toàn cầu thay đổi: trước đây, người ta vui vẻ và hạnh phúc với 1 cái tivi dùng đến 10 năm không hỏng, 1 cái máy giặt 30 năm vẫn chạy tốt. Nhưng giờ đây, khi mà nền kinh tế thế giới đang phát triển mạnh mẽ sau 1 thời gian dài ra khỏi chiến tranh, thì người ta cần những sản phẩm công nghệ thực thụ với hàm lượng chất xám cao hơn, kiểu dáng đẹp hơn, thời trang hơn và đặc biệt, họ không cần nó quá bền và chính vì thế, giá phải rẻ hơn. Trong khi đó, các công ty Nhật Bản lại tiếp tục trung thành với chiết lý: tốt, bền, giá cao của những năm 60, 70.

Một yếu tố không thể không nhắc đến đó là yếu tố dân số, văn hóa và ý thức hệ: Người Nhật sau 1 thời gian dài phấn đấu tột bậc để đạt được thành công, họ chấp nhận hy sinh mọi thứ cho công việc, cho sản xuất, cho kinh doanh… và giờ, dân số Nhật Bản trở nên già cỗi. Người Nhật giờ thậm chí không muốn sinh con, dân số họ đang giảm đi. Khi dân số già cỗi có nghĩa rằng khả năng sáng tạo kém đi, khả năng thích ứng và phản ứng lại các biến đổi của môi trường xung quanh cũng kém đi. Khi người ta già, sự tự phụ, bảo thủ cũng cao lên, người ta khó chấp nhận sự thật rằng mình đang thua kém đối thủ. Người Nhật đã phải trả giá cho điều đó hơn 10 năm qua. Những cái giá không hề rẻ chút nào.

Thêm vào đó, các các công ty của Nhật thua kém các công ty của Hàn Quốc, Mỹ về hệ thống quản lý. Cụ thể như Samsung hiện đang dùng những hệ thống quản lý tốt nhất thế giới, điều đó giúp cho họ làm kế hoạch cung ứng hàng hóa tốt nhất có thể, tránh được tình trạng hàng tồn kho tràn lan. Chi phí giải phóng tồn kho lớn, lỗ chồng lỗ.

Một sự thật cay đắng là Samsung Electronics với triết lý thay đổi kiểu dáng liên tục đã có thành công vượt bậc và trở thành công ty công nghệ số 1 thế giới. Triết lý đó được ông Lee Kun Hee, chủ tịch tập đoàn Samsung học từ 1 chuyên gia thiết kế người Nhật, bạn của ông, chuyên gia thiết kế người Nhật này đã từng bị Sony bác bỏ triết lý của mình và đem nó sang cho Samsung. Người Nhật đã ngủ quên trên chiến thắng như thế.

An Nhiên

.
.
.
.
.

.
.
.